Liên Mạng VietNam || GiaiTri.com | GiaiTriLove.com | GiaiTriChat.com | LoiNhac.com Đăng Nhập | Gia Nhập
Tìm kiếm: Tựa truyện Tác giả Cả hai

   Tìm theo mẫu tự: # A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Danh sách tác giả    Truyện đã lưu lại (0
Home >> Truyện Dài >> Cuộc đời chìm nổi của thuyền trưởng Blood

  Cùng một tác giả


  Tìm truyện theo thể loại

  Tìm kiếm

Xin điền tựa đề hoặc tác giả cần tìm vào ô này

  Liệt kê truyện theo chủ đề

  Liệt kê truyện theo tác giả
Số lần xem: 20770 |  Bình chọn:   |    Lưu lại   ||     Khổ chữ: [ 1, 2, 3

Cuộc đời chìm nổi của thuyền trưởng Blood
Rafael Sabatini

Chương 16

Việc cứu thoát tiểu thư d’Ogeron dĩ nhiên càng cải thiện thêm mối quan  hệ vốn đã rất tốt đẹp giữa thuyền trưởng Blood với thống đốc Tortuga.  Thuyền trưởng trở thành vị khách quý trong toà nhà trắng đẹp đẽ với những  cửa sổ xanh lá cây mà d’Ogeron xây cho mình ở phía đông Cayon, giữa một  khu vườn rộng rãi, huy hoàng. Quan thống đốc cho rằng món nợ ngài phải trả Blood không chỉ là hai chục ngàn pêxô mà chàng đã bỏ ra để chuộc  Madeleine. Là một nhà kinh doanh thông minh và sành sõi nhưng ngài không  thiếu tính cao thượng và lòng biết ơn.
Ông lớn Pháp đã chứng minh điều đó bằng mọi cách, và dưới sự bảo hộ của ngài, uy tín của Blood trong đám cướp biển đã lên đến tột đỉnh.
Đến khi phải trang bị một hải đội để tập kích Maracaybo như trước đây  Levasseur đã chủ trương thì Blood đã có trong tay đủ người và tàu bè. Chàng  dễ dàng tập hợp được năm trăm tay giang hồ, nhưng nếu muốn thì chàng có  thể mộ tới cả năm nghìn. Cũng hệt như vậy, chàng chẳng phải khó nhọc gì  vẫn có thể tăng được gấp đôi số tàu, nhưng Blood chỉ cần đến ba chiếc mà  thôi. “Arabella”, “La Foudre” với thuỷ thủ đoàn Pháp do Cahusac cầm đầu và  “Santisago”, đã được trang bị lại và đổi tên thành “Elizabeth”. Họ đặt cho con  tàu cái tên đó để tưởng nhớ đến nữ hoàng Anh, người mà trong thời trị vì, các  thuỷ thủ Anh đã dạy cho Tây Ban Nha những bài học, điều mà bây giờ thuyền  trưởng Blood đang muốn lặp lại.
Chàng chỉ định Hagthorpe làm thuyền trưởng “Elizabeth” và sự chỉ định  ấy đã được toàn thể các tay anh chị cướp biển nhất trí tán thành.
Tháng tám năm 1687, cái hải đội nhỏ bé của Blood sau một vài đụng độ trên đường đi mà tôi sẽ không kể ra ở đây, đã tiến vào hồ Maracaybo rộng lớn  và đột kích vào thành Main Maracaybo trù phú.
Trận này diễn ra không được trôi chảy như Blood nhận định, và toán  cướp của chàng đã rơi vào một tình thế nguy hiểm. Sự phức tạp của tình huống ấy được thể hiện rõ nhất qua lời Cahusac - mà Pitt đã chịu khó ghi  chép lại đầy đủ - trong lúc nóng mặt cãi nhau trên bậc thềm nhà thờ Neustra  Senora del Carmen, mà Blood không chút nể nang đã biến thành lao thất. Như tôi đã nói ở trên, chàng Ailen này chỉ nhớ mình là tín đồ công giáo mỗi khi  chàng thích mà thôi.
Tham gia vào cuộc cãi cọ đó, một bên là Hagthorpe, Wolverstone và  Pitt, còn bên kia là Cahusac, và chính sự nhút nhát của hắn là nguyên nhân  cuộc cãi vã. Trước mặt các đầu lĩnh cướp biển, trên khoảng sân rộng lấm bụi  bị mặt trời thiêu đốt, xung quanh là những cây cọ hiếm hoi héo hắt dưới ánh  nắng, một đám đông hỗn độn các tay anh chị đao búa của cả hai đội tàu đang  ồn ào như chợ vỡ.
Xem ra không ai ngăn cản Cahusac, và giọng nói cộc cằn chói tai của  hắn át hẳn tiếng ồn ào thô lỗ của đám đông. Mỗi khi gã người Pháp lớn tiếng  kết án Blood vào đủ thứ trọng tội mà chẳng đâu vào với đâu cả thì tiếng la ó  lại lắng đi. Pitt khẳng định rằng Cahusac nói tiếng Anh không ra gì và vì thế anh không muốn dẫn lời hắn ra đây. Quần áo của gã thuyền trưởng Pháp cũng  kệch cỡm và xác xơ như bài nói của hắn, toàn bộ vẻ ngoài của Cahusac trái  hẳn với dáng dấp khiêm nhường của Hagthorpe trong bộ quần áo sạch sẽ tinh  tươm và phong thái gần như hào hoa của Pitt với chiếc áo camisole rất diện và  đôi giầy bóng lộn. Cái áo chẽn lấm tấm vết máu bằng thứ vải mộc màu xanh  rộng thùng thình trên người Cahusac mở phanh để lộ bộ ngực lông lá bẩn thỉu  của hắn, chiếc thắt lưng thít chặt cái quần da của hắn có giắt một con dao và  một xâu súng lục, lại thêm cả một lưỡi gươm cong cận chiến đeo lủng lẳng  bên dưới. Chiếc khăn đỏ chít quanh đầu như cái khăn xếp thòng đuôi xuống  bộ mặt to bè nổi bắp như mặt một gã Mông Cổ của hắn.
- Chẳng phải tôi đã báo trước cho các người rằng mọi việc quá suôn sẻ,  quá thuận buồm xuôi gió rồi đó sao? - hắn rống lên, điên cuồng nhảy chồm  chồm trên cặp cẳng vòng kiềng. - Tôi không phải thằng ngốc đâu, anh em! Dù  sao thì tôi cũng không mù cơ mà! Lúc vào hồ chúng ta đã trông thấy gì nào?  Một pháo đài bị bỏ trống! Anh em còn nhớ chứ? Chẳng có ma nào trong đó  cả. Đúng không? Không đứa nào bắn vào chúng ta cả. Tất cả cá khẩu pháo  đều im lìm. Lúc ấy tôi đã nghi ngay là có chuyện chẳng lành rồi. Mà ở vào địa  vị tôi bất kỳ ai có tai để nghe, có óc để suy xét cũng đều nghĩ ngay như thế.  Vậy mà chúng ta vẫn cứ tiến lên. Và chúng ta đã thấy gì? Một thành phố bị bỏ ngỏ, hệt như pháo đài, dân chúng đã chạy hết, khuân theo tất cả những gì đáng giá. Tôi lại cảnh cáo thuyền trưởng Blood, tôi bảo anh ta rằng đó không  phải là chuyện chơi, rằng đấy là cạm bẫy. Nhưng anh ta nào có nghe tôi đâu,  chẳng thèm nghe gì cả. Chúng ta lại tiếp tục tiến, không hề gặp một sự kháng  cự nào. Rốt cuộc thì ai cũng phải nhận thấy rằng nếu đi thêm tí nữa rồi chẳng  tài nào quay lại được cho mà xem. Tôi lại cảnh cáo một lần nữa nhưng vẫn  không ai thèm nghe tôi. Lạy Chúa, thuyền trưởng Blood cứ phải tiến lên mới  nghe! Thế là chúng ta lại tiến lên và đã đến tận Gibraltar. Ừ thì rốt cuộc ở đấy  chúng ta đã tóm được lão phó thống đốc, buộc lão phải nộp tiền chuộc cho  thành phố, nhưng giá trị của tất cả những gì chúng ta chiếm được chỉ vẻn vẹn  có hai nghìn pêxô! Anh em có thể cho tôi biết thế là thế nào không? Hay là tôi  phải giải thích cho anh em nghe? Đó là một miếng mỡ, anh em nghe ra chưa  nào? Một miếng mỡ đặt trong bẫy chuột! “Thế thì ai là chuột?”. Các anh nghĩ như thế chứ gì? Chuột ấy là chúng ta đây, mẹ kiếp! Còn mèo thì đâu rồi? Ồ,  chúng đang rình chờ chúng ta đấy! Mèo - đó là bốn chiếc tàu Tây Ban Nha  đang đợi chúng ta ngoài cửa bẫy kia. Lạy Chúa! Chúng ta đã sa bẫy vì sự bướng bỉnh ngu xuẩn của thuyền trưởng Blood tài giỏi của chúng ta đấy!
Wolverstone bật cười. Cahusac càng nổi khùng.
- A, mẹ kiếp! Mày còn cười nữa hả, đồ súc sinh! Tao thử hỏi mày: làm  thế nào chúng ta ra khỏi đây được nếu không chấp nhận những điều kiện của  lão đô đốc Tây Ban Nha kia?
Bọn cướp biển đứng ở các bậc thềm phía dưới nhao nhao hưởng ứng.  Lão hộ pháp Wolverstone hằm hằm nhìn chúng bằng con mắt độc nhất, nắm  tay xiết chặt như chực nhảy xổ vào nện cho gã người Pháp đang kích động  làm loạn một trận. Nhưng cái đó không làm Cahusac nao núng. Được khích lệ bởi sự đồng tình của bọn cướp biển, hắn nói tiếp:
- Chắc mày nghĩ rằng thuyền trưởng Blood của mày là thánh sống và hắn  có phép màu chăng? Tay thuyền trưởng Blood được ca tụng ầm ĩ của mày ấy  nực cười lắm, mày có biết không...
Hắn chợt im bặt bởi vì đúng lúc ấy thuyền trưởng Blood từ trong nhà thờ thong thả bước ra. Bên cạnh chàng là Yberville, một anh chàng người Pháp  cẳng sếu. Tuy còn trẻ nhưng anh ta đã nổi tiếng là một cướp biển liều lĩnh,  được coi là một con sói biển chính cống trước khi tàu anh bị đánh chìm và  anh ta buộc phải về theo Blood. Thuyền trưởng đội mũ rộng vành đính ngù  lông đà điểu bước tới trước mặt đám cướp biển, khẽ tì lên cây can dài bằng gỗ mun. Trông bề ngoài thì không ai dám bảo chàng là một tên cướp biển. Chàng như một tay chơi nhàn rỗi ở đường Pall Mall hay Alameda. Địa điểm  sau có vẻ đúng hơn bởi vì chiếc áo camisole sang trọng được may theo mốt  mới nhất của Tây Ban Nha. Nhưng nếu nhìn kỹ thì cái ấn tượng ấy sẽ khác  ngay. Thanh gươm dài hờ hững hất ra sau và ánh thép trong cặp mắt Blood  cho thấy chàng chính là một kẻ tìm kiếm phiêu lưu.
- Anh thấy tôi là một thằng thộn nực cười à, Cahusac? - Chàng hỏi, dừng  lại trước mặt gã người Breton lúc này đã như quả bóng xuống hơi. - Vậy thì  tôi phải gọi anh là gì? – Chàng nói bằng giọng nhẹ nhàng mệt mỏi. - Anh than  phiền rằng sự nấn ná của chúng ta đã gây ra mối hiểm hoạ. Nhưng ai có lỗi  trong việc chậm trễ ấy? Chúng tôi đã mất gần một tháng trời để làm một việc  mà đáng ra chỉ phải làm trong một tuần lễ nếu như không có sai lầm của anh.
- Ôi, lạy Chúa! Nghĩa là tôi lại có còn có lỗi vì…
- Nhưng có phải tôi đã đưa tàu “La Foudre” lên cạn ngay giữa hồ không  nào? Anh đã tự phụ từ chối không lấy hoa tiêu. Việc ấy đã làm chúng ta mất  đứt ba ngày vàng ngọc để dỡ hàng và kéo tàu anh ra khỏi bãi cạn. Trong ba  ngày ấy dân chúng Gibraltar không chỉ biết tin về chúng ta mà còn kịp cao  chạy xa bay rồi. Chính đó là điều đã bắt chúng ta phải đuổi theo viên thống  đốc và mất gần một trăm người với hai tuần lễ ở chân pháo đài! Đấy, nguyên  nhân chậm trễ của chúng ta đấy! Và trong khi chúng ta đang bận rộn với việc  đó thì hải đội Tây Ban Nha đã nhận được tin cấp báo từ La Guayra do tàu  tuần phòng bờ biển đưa tới và đã kịp đến nơi. Nhưng ngay cả bây giờ chúng  ta vẫn có thể thoát ra biển được nếu không mất “La Foudre”. Thế mà anh còn  dám lên án tôi trong những việc mà chính anh, hay đúng hơn là sự ngu xuẩn  của anh có lỗi nữa!
Chắc bạn đọc cũng đồng ý với tôi rằng sự tự chủ của Blood không thể không coi là kỳ lạ nếu lưu ý tới một chi tiết là hải đội Tây Ban Nha đang canh  giữ lối ra khỏi hồ Maracaybo do kẻ tử thù của chàng - don Miguel de  Espinosa y Valdez, đô đốc Tây Ban Nha - chỉ huy. Ngoài nghĩa vụ đối với tổ quốc, như các bạn đã biết viên đô đốc còn có những lý do riêng để mong gặp  Blood - đó là chuyện đã xảy ra gần một năm trước trên tàu “Encarnacion” và  kết thúc bằng cái chết của em trai hắn là don Diego. Đi theo don Miguel còn  có cháu hắn là don Esteban, người còn khao khát báo thù hơn cả chính tên đô  đốc nữa.
Tuy nhiên thuyền trưởng Blood vẫn ung dung như không còn chế nhạo  thái độ hèn nhát của Cahusac nữa.
- Bây giờ không phải là lúc đem mọi chuyện đã rồi ra mà nói! - Cahusac  rống lên. - Bây giờ vấn đề là chúng ta sẽ làm gì đây?
- Vấn đề ấy hoàn toàn không có! - Blood ngắt lời.
- Sao lại không? - Cahusac cáu tiết. - Đô đốc Tây Ban Nha don Miguel  đã hứa bảo đảm an toàn cho chúng ta nếu chúng ta chịu rút ngay mà không  đụng đến thành phố, nếu chúng ta chịu giải thoát tù binh và trả lại tất cả những gì ta đã chiếm được ở Gibraltar.
Thuyền trưởng Blood mỉm cười, thừa biết giá trị những lời hứa hẹn của  don Miguel, nhưng Yberville thì không hề giấu giếm sự khinh bỉ của mình  đối với Cahusac, lên tiếng:
- Cái đó một lần nữa chứng tỏ rằng, tên đô đốc Tây Ban Nha dù có trong  tay tất cả mọi ưu thế vẫn sợ chúng ta.
- Đó là vì hắn không biết chúng ta đã kiệt quệ đến mức nào! - Cahusac  gào lên. - Chúng ta buộc phải chấp nhận điều kiện của hắn bởi vì không còn  lối thoát nào khác. Ý kiến của tôi là thế đấy.
- Nhưng không phải là ý kiến của tôi. - Blood bình thản nói. - Vì thế tôi  bác bỏ những điều kiện ấy.
- Bác bỏ? - Bộ mặt bè bè của Cahusac đỏ rần. Tiếng la ó của bọn đứng  phía sau càng khích lệ hắn. - Bác bỏ mà không thèm hỏi ý kiến tôi?
- Anh có từ chối cũng không thể thay đổi được gì hết. Chúng tôi chiếm  đa số bởi vì Hagthorpe cũng có ý kiến như tôi. Nhưng nếu anh và những  người Pháp theo anh muốn chấp nhận điều kiện của bọn Tây Ban Nha thì  chúng tôi không ngăn trở. Anh hãy cho người đi mà báo với tên đô đốc. Tôi  không nghi ngờ gì rằng quyết định đó của anh chỉ càng làm don Miguel thêm  hả lòng hả dạ mà thôi.
Cahusac bực tức nhìn chàng, rồi sau khi đã trấn tĩnh lại, hắn hỏi:
- Vậy anh đã trả lời đô đốc như thế nào?
Vẻ mặt và ánh mắt của Blood ngời lên một nụ cười.
- Tôi đã trả lời hắn rằng nếu trong vòng 24 giờ hắn không để chúng ta tự do ra khỏi đây và không trả năm chục ngàn pêxô tiền chuộc thành phố Maracaybo thì chúng ta sẽ biến thành phố tuyệt diệu này thành đống gạch  vụn, rồi khi ra khỏi đây sẽ tiêu diệt nốt hải đội của hắn một thể.
Nghe thấy câu trả lời ngang ngược như vậy Cahusac cấm khẩu luôn. Thế nhưng trong đám cướp biển người Anh thì nhiều tên thấy khoái cái kiểu khôi  hài táo tợn của con người mặc dù đã nằm trong cạm bẫy vẫn tiếp tục ra điều  kiện cho kẻ bẫy mình. Toán cướp ha hả cười và reo hò đồng tình, nhiều tên  người Pháp bên phe Cahusac cũng lây cơn say sưa phấn khích ấy. Cahusac  còn lại một mình với sự ương ngạnh rồ dại của hắn. Hắn tức tối bỏ đi và mãi  hôm sau vẫn không hết cáu. Đó là ngày báo thù của hắn.
Ngày hôm ấy don Miguel đã sai người đem thư đến. Viên đô đốc Tây  Ban Nha trịnh trọng thề rằng vì bọn cướp biển đã bác bỏ đề nghị độ lượng của  hắn nên hắn sẽ đón chúng ở lối vào hồ Maracaybo để tiêu diệt. Còn nếu bọn  cướp biển cứ nấn ná không chịu thò mặt ra thì, Miguel cảnh cáo, một khi hải  đội của hắn được tăng viện một chiếc tàu thứ năm – “Santo Nino” - đang từ La Guayra đến, hắn sẽ thân chinh dẫn quân vào hồ và tóm sống chúng ở Maracaybo.
Lần này thì Blood không thể giữ bình tĩnh được nữa.
- Đừng có quấy rầy tao! - Chàng mắng Cahusac lúc này lại mò đến kêu  ca. - Cứ bảo với tên đô đốc rằng mày đã ly khai chúng tao, mẹ khỉ, rồi hắn sẽ để cho mày và người của mày đi. Hãy lấy một chiếc thuyền rồi cút đi đâu thì  cút!
Dĩ nhiên Cahusac đã làm theo lời khuyên ấy nếu như bọn Pháp đồng tâm  nhất trí trong vấn đề này. Chúng bị xâu xé bởi một bên là lòng tham và bên  kia là nỗi sợ hãi: nếu theo Cahusac bỏ đi thì chúng sẽ mất trắng phần mình  trong số của cải chiếm được, cũng như phải bỏ các tù binh và nô lệ đã bắt  được, còn nếu tay thuyền trưởng Blood ranh ma kia mà thoát ra khỏi đây bình  yên vô sự thì tất nhiên chàng có quyền chiếm trọn tất cả những gì chúng để tuột khỏi tay. Chỉ một ý nghĩ về cái triển vọng quá quắt ấy thôi là đã đủ cay  cú rồi. Và thế là, bất chấp những lời dụ dỗ của Cahusac, bọn đồng minh của  hắn dần dần bỏ theo phe Blood. Chúng tuyên bố rằng chúng đã đi cùng với  Blood thì chúng chỉ trở về với chàng nếu chúng may mắn sống sót. Quyết  định ấy do chính Cahusac báo lại cho Blood biết.
Blood lấy làm mừng trước quyết định đó và mời luôn gã người Breton  tham dự cuộc hội ý đúng lúc ấy đang bàn đến những hành động trước mắt.  Hội nghị được tiến hành ở khoảng sân trong rộng rãi của dinh thống đốc.  Ngay giữa sân là vòi phun mát mẻ trên nền một bệ đá với những mái vòm bao  bọc xung quanh, nước từ dưới phun lên qua những khóm dây leo. Quanh đó trồng những khóm cam, và bầu không khí im lìm buổi chiều tràn ngập hương  thơm của chúng. Đó là một trong những kiến trúc đáng yêu kể từ trong ra  ngoài, mà các kiến trúc sư Moorish đã xây dựng ở Tây Ban Nha theo lối Châu  Phi, và sau này người Tây Ban Nha lại truyền bá sang Tân Thế Giới.
Tham dự hội nghị cả thảy có sáu người và kéo dài mãi đến khuya mới  xong. Hội nghị đã bàn bạc kế hoạch hành động do Blood đưa ra.
Hồ nước ngọt Maracaybo rộng lớn chạy dài 120 dặm, nhiều chỗ bề rộng  cũng bằng ngần ấy. Mấy con sông từ những dãy núi tuyết hai bên bờ đổ nước  vào nuôi nó. Như tôi đã nói, hồ này có hình dáng như một cái chai khổng lồ,  cổ chai đổ ra biển ở thành phố Maracaybo.
Qua hết cái cổ chai ấy mặt hồ lại phình ra và đến gần cửa biển thì có hai  hòn đảo dài là Vigilias và Lat Palomat án ngữ lối ra đại dương. Lối đi duy  nhất cho tàu bè mọi trọng tải là một eo nhỏ giữa hai hòn đảo ấy. Bờ đảo Lat  Palomat chỉ cho phép các loại tàu bè nhỏ có mớm nước thấp ghé vào, từ mỏm  phía đông của nó. Nhưng ở đây lại có một pháo đài kiên cố dựng lên sừng  sững án ngữ cái luồng hẹp ra biển. Cái pháo đài này đã bị bỏ ngỏ khi bọn  cướp kéo vào. Bốn chiếc tàu Tây Ban Nha bỏ neo ngay trên mặt hồ nằm giữa  hai hòn đảo ấy.
Kỳ hạn “Encarnacion” mà chúng ta đã được làm quen là một chiếc  galion rất mạnh, trang bị 48 khẩu pháo lớn và tám khẩu nhỏ. Tiếp theo là  chiếc tàu 36 pháo “Salvador”, còn hai chiếc tàu nhỏ - “Infanta” và “San  Felipe”- thì mỗi tàu có 20 khẩu pháo và một trăm năm mươi thuỷ thủ.
Đó là cái hải đội mà Blood phải nhận lời thách đấu khi trong tay chàng,  ngoài “Arabella” với 40 khẩu pháo và “Elizabeth” với 26 khẩu chỉ còn có hai  chiếc hải thuyền bắt được ở Gibraltar, mỗi cái được trang bị bốn khẩu pháo cổ lỗ dài nghêu. Đối đầu với một nghìn lính Tây Ban Nha, bọn cướp biển chỉ vẻn  vẹn không quá bốn trăm tên.
Kế hoạch do Blood đưa ra nổi bật sự táo bạo của ý đồ mà người ngoài sẽ thấy dường như là thí mạng, và Cahusac lập tức phát biểu ngay những lo ngại  của mình.
- Đúng, tôi công nhận, - thuyền trưởng Blood nói, - nhưng tôi đã từng  làm những việc liều lĩnh hơn nhiều, - chàng khoan khoái phì phèo chiếc tẩu  nhồi thứ thuốc Gibraltar thơm ngon có tiếng. - Và một điều quan trọng hơn  nữa là những việc ấy đã kết thúc tốt đẹp. Audaces fortuna juvat, (vận may trợ giúp kẻ có gan) - chàng nói thêm bằng tiếng La Tinh rồi kết luận: - Quả là các  cụ La Mã ngày xưa thâm thuý thật.
Niềm tự tin của chàng đã lây sang cả Cahusac đa nghi và nhút nhát. Tất  cả đều hăng hái bắt tay vào việc, và suốt trong ba ngày liền từ sáng sớm đến  tối mịt, họ chuẩn bị cho trận đánh đầy hứa hẹn thành công. Thời gian không  chờ đợi. Họ phải ra đòn trước khi chiếc galion thứ năm “Santo Nino” từ La  Guayra kịp đến tăng viện cho don Miguel de Espinosa.
Phần lớn công việc của họ được xúc tiến trên chiếc thuyền lớn hơn trong  hai chiếc đoạt được ở Gibraltar. Chiếc thuyền này đóng vai trò chủ yếu trong  việc thực hiện kế hoạch của Blood. Tất cả các vách ngăn trên đó đều bị phá  bỏ và chiếc thuyền biến thành một cái thùng rỗng che bên trên bởi những tấm  ván mặt boong, rồi khi hai bên mạn của nó bị khoan thủng hàng trăm lỗ thì nó  đâm ra giống nửa cái vỏ hạt dẻ rỗng bị sâu đục lỗ chỗ. Sau đó trên boong lại  được khoét thêm mấy cửa khoang nữa, còn trong khoang thì nhồi đầy tất cả dự trữ nhựa thông, hắc ín và diêm sinh tìm thấy trong thành phố. Thêm vào  đó là sáu thùng thuốc súng đặt hai bên mạn, kê vào các lỗ khoét sẫm giống  như những khẩu pháo.
Đến tối ngày thứ tư, khi mọi việc đã hoàn tất, bọn cướp biển rời bỏ thành  phố Maracaica thú vị nhưng không một bóng người. Tuy thế, họ chỉ nhổ neo  lúc đã quá nửa đêm hai tiếng đồng hồ, lợi dụng triều xuống để tàu trôi lặng lẽ về hướng bãi bồi cửa biển. Đoàn tàu kéo đi, buồm cuốn hết chỉ trừ những lá  buồm chính mũi được giương lên để đón làn gió nhẹ thổi hây hây trong màn  đêm tím sẫm miền nhiệt đới. Dẫn đầu là chiếc thuyền bộc phá làm vội do  Wolverstone cùng sáu tên cảm tử điều khiển. Mỗi tên trong số đó, ngoài  những phần thưởng đặc biệt còn được hứa hẹn thêm 100 pêxô vào phần của  cải được chia. Theo sau thuyền bộc phá là “Arabella”, sau một đoạn nữa là  “Elizabeth”, dưới sự chỉ huy của Hagthorpe, Cahusac cùng bọn cướp biển  người Pháp cũng đi trên tàu này. Đi đoạn hậu gồm có chiếc hải thuyền thứ hai  và tám chiếc thuyền thoi chở tù binh, nô lệ cùng phần lớn của cải chiếm được.  Trông coi tù binh là hai thuỷ thủ điều khiển và bốn tên cướp biển vũ trang  bằng súng hoả mai.
Theo kế hoạch của Blood, toán này phải ở lại tuyến sau và bất luận thế nào cũng không được tham dự vào trận đánh sắp tới.
Khi ráng hồng vừa xua tan màn đêm, bọn cướp biển dõi mắt nhìn ra phía  xa và nhận thấy hình dáng đám thiết bị buồm dây của những chiếc tàu Tây Ban Nha bỏ neo cách đó một phần tư dặm.
Cậy có quân số áp đảo, bọn Tây Ban Nha không hề tỏ ra cảnh giác hơn  chút nào so với thói chủ quan cố hữu của chúng và chỉ phát hiện ra hải đội  của Blood sau khi hải đội này đã trông thấy chúng từ lâu. Nhìn thấy những  chiếc galion của Tây Ban Nha qua màn sương mờ buổi sớm, Wolverstone liền  hạ lệnh giương hết buồm của thuyền bộc phá và trong lúc bọn Tây Ban Nha  chưa kịp trở tay thì chiếc thuyền đã đến sát chúng rồi.
Hướng con thuyền của mình vào chiếc kỳ hạn “Encarnation” khổng lồ,  Wolverstone buộc chặt cứng cần lái rồi vớ lấy cuộn bùi nhùi đang âm ỉ để gần  đấy đốt cây đuốc bện bằng rơm tẩm dầu. Cây đuốc cháy bùng lên đúng vào  lúc con thuyền đâm sầm vào mạn chiếc kỳ hạm. Vướng buồm vào những dây  lèo của chiếc tàu lớn, nó bắt đầu chòng chành. Sáu người của Wolverstone cởi  trần trùng trục đứng tại vị trí của mình bên mạn trái: bốn bên đứng ở cầu  ngang và hai tên trèo lên đứng trên giằng buồm, tay lăm lăm những móc bấu.  Khi chiếc thuyền bộc phá đâm sầm vào mạn tàu Tây Ban Nha, chúng liền  tung ngay những chiếc móc bấu sang mạn tàu địch móc chặt hai tàu vào nhau.  Những móc bấu ném từ giằng buồm xuống có tác dụng làm dây buồm hai tàu  thêm rối và không cho bọn Tây Ban Nha kịp gỡ thoát những vị khách không  mời.
Chiếc galion Tây Ban Nha nổi hiệu báo động, và thế là cơn hoảng loạn  bắt đầu. Bọn Tây Ban Nha mắt nhắm mắt mở vì ngái ngủ, chạy ngược chạy  xuôi lộn xộn và kêu gào inh ỏi. Chúng định kéo neo nhưng rồi đành phải từ bỏ ý định tuyệt vọng ấy vì đằng nào cũng không đủ thời gian để làm việc đó.  Quân Tây Ban Nha ngỡ rằng bọn cướp sẽ áp mạn và vội vàng chộp lấy vũ khí  chờ sẵn. Hành động kỳ dị của quân tấn công làm thuỷ thủ đoàn  “Encarnaction” bối rối bởi vì nó không giống chiến thuật bọn cướp biển hay  dùng. Chúng càng sửng sốt hơn khi trông thấy lão hộ pháp Wolverstone vừa  vung vẩy bó đuốc cháy rực vừa chạy trên boong thuyền của mình. Lúc bọn  Tây Ban Nha đoán ra rằng Wolverstone đang chạy đi đốt các ngòi nổ thì đã  quá muộn rồi. Một trong các sĩ quan Tây Ban Nha vì quá hoảng hốt đã ra lệnh  cho nhóm áp mạn nhảy sang thuyền bọn cướp.
Nhưng cả cái mệnh lệnh ấy cũng chậm nốt. Sau khi thấy rõ sáu tay chiến  hữu của mình đã thực hiện xong mọi việc được giao và đã lao xuống nước,  Wolverstone chạy đến lỗ cửa khoang gần nhất, ném bó đuốc cháy rực xuống  hầm tàu rồi cũng nhào xuống biển lặn đi luôn. Một chiếc xuồng từ “Arabella” thả xuống đã đón lão. Trước khi Wolverstone được đưa lên xuồng, chiếc tầu  đã cháy rực như một bó đóm khổng lồ với những tiếng nổ làm bắn tung toé  lên “Encarnaction” những khối chất cháy nghi ngút lửa. Những lưỡi lửa dài  quét ngang mạn chiếc galion hất ngược trở lại một vài kẻ liều lĩnh hiếm hoi,  mặc dù đã muộn nhưng vẫn cố sống cố chết đẩy rời chếc thuyền ra.
Trong khi chiếc tàu mạnh nhất của hải đội Tây Ban Nha ngay từ phút  đầu trận đánh đã nhanh chóng bị loại ra khỏi vòng chiến thì Blood tiến đến  gần chiếc “Salvador”. Lướt ngang qua mũi nó, “Arabella” nổ một loạt pháo  mạnh khủng khiếp đến nỗi quét sạch mặt boong chiếc tàu Tây Ban Nha. Rồi  “Arabella” vòng lại, lướt dọc theo mạn “Salvador” và nhằm thẳng thân nó bắn  một loạt thứ hai bằng tất cả các nòng pháo trên tàu. Để mặc “Salvador” gần  như bị loại khỏi vòng chiến, “Arabella” thẳng hướng đi tiếp, nổ mấy phát vào  mũi gây lúng túng cho thuỷ thủ đoàn “Infanta” rồi xô hẳn vào cặp mạn chiếc  tàu Tây Ban Nha. Trong khi đó thì Hagthorpe cũng làm như vậy với chiếc  “San Felipe”.
Suốt thời gian đó bọn Tây Ban Nha không kịp nổ một phát súng nào,  chúng bị đánh phủ đầu quá đột ngột và miếng đòn bất ngờ của Blood lại quá  mãnh liệt.
Bị áp mạn và khiếp đảm trước ánh thép nhoang nhoáng của những lưỡi  gươm trong tay bọn cướp, thuỷ thủ đoàn của “Infanta” và “San Felipe” không  hề kháng cự gì cả. Cảnh tượng chiếc kỳ hạm ngập trong biển lửa và chiếc  “Salvador” bị loại khỏi vòng chiến làm chúng kinh hoàng đến nỗi đã phải vội  vàng hạ vũ khí.
Nếu như “Salvador” đánh trả thật quyết liệt để làm gương cho các tàu  chưa bị tổn thất thì rất có thể hạnh vận trong ngày hôm ấy sẽ nghiêng về phía  Tây Ban Nha. Nhưng chuyện ấy đã không xảy ra vì tính bủn xỉn cố hữu của  Tây Ban Nha: “Salvador” còn phải cứu kho bạc của hải đội để trên đó. Lo  lắng trước hết là làm sao năm chục nghìn pêxô khỏi rơi vào tay bọn cướp  biển, don Miguel lúc này đã cùng đám tàn quân chuyển sang “Salvador”, ra  lệnh rút về pháo đài trên đảo Lat Palomat. Dự kiến trước cuộc đụng độ không  thể tránh khỏi với bọn cướp biển, viên đô đốc đã bố trí lại lực lượng trong  pháo đài và để lại đó một toán quân đồn trú. Nhằm mục đích ấy, hắn đã  chuyển từ pháo đài Cojero nằm sâu trong vịnh ra mấy khẩu “Vua pháo” tầm  xa, mạnh hơn pháo thường rất nhiều lần.
Không hề hay biết chuyện đó, thuyền trưởng Blood đưa “Infanta”, lúc này đã bị bọn cướp biển chiếm và do Yberville chỉ huy, đuổi theo bọn Tây  Ban Nha. Mấy khẩu pháo đuôi của “Salvador” rời rạc đáp lại hoả lực mạnh  mẽ của bọn cướp. Tuy nhiên, vì bị hư hại quá nghiêm trọng nên vừa vào tới  vùng nước nông dưới tầm yểm hộ của những khẩu pháo trên tiền đồn là chiếc  tàu bắt đầu chìm, để lại một phần thân tàu nhô lên khỏi mặt nước. Thuỷ thủ đoàn đứa ngồi xuồng, đứa bơi lội bì bõm, rốt cuộc cũng vào được đến bờ.
Khi thuyền trưởng Blood tưởng là đã nắm chắc phần thắng và lối ra khơi  đã được khai thông thì pháo đài đột nhiên biểu dương sức mạnh hùng hậu  nhưng đến nay vẫn giấu kín của mình. Một loạt “vua pháo” dội lên. Những  viên đạn nặng nề đã đánh bay một mảng mạn và giết chết mấy tên cướp biển.  Sự hoảng loạn bắt đầu lan trên tàu.
Loạt thứ hai tiếp theo loạt đầu, và nếu Pitt, hoa tiêu của “Arabella”,  không kịp chạy đến bẻ lái cho tàu ngoặt gấp sang phải thì “Arabella” đã nguy  rồi. “Infanta” còn bị thương nặng hơn. Nước biển ùa vào những lỗ thủng trên  vạch mớn nước mạn trái của nó và con tàu chắc chắn đã chìm nếu Yberville  dày dạn và quyết đoán không ra lệnh ném hết pháo mạn trái xuống biển.
“Infanta” vẫn giữ được nổi trên mặt nước mặc dù con tàu bị nghiêng rất  mạnh về mạn phải, nhưng vẫn cố gắng lết theo sau “Arabella”. Pháo trên tiền  đồn vẫn tiếp tục bắn đuổi theo những chiếc tàu đang quay lui, nhưng không  gây cho chúng những hư hại đáng kể. Thoát khỏi vùng hoả lực của pháo đài.  “Arabella” và “Infanta” nhập vào với “Elizabethh” và “San Felipe” rồi thả trôi, mãi đến lúc ấy thuyền trưởng của bốn con tàu mới có thể ngồi lại bàn bạc  tình thế khó khăn của mình được.

<< Chương 15 | Chương 17 >>


Dành cho quảng cáo

©2007-2008 Bản quyền thuộc về Liên Mạng Việt Nam - http://lmvn.com ®
Ghi rõ nguồn "lmvn.com" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này - Useronline: 137

Return to top