Liên Mạng VietNam || GiaiTri.com | GiaiTriLove.com | GiaiTriChat.com | LoiNhac.com Đăng Nhập | Gia Nhập
Tìm kiếm: Tựa truyện Tác giả Cả hai

   Tìm theo mẫu tự: # A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Danh sách tác giả    Truyện đã lưu lại (0
Home >> Phiêu Lưu, Mạo Hiểm >> Chim Ó Biển (The Seahawk)

  Cùng một tác giả


  Tìm truyện theo thể loại

  Tìm kiếm

Xin điền tựa đề hoặc tác giả cần tìm vào ô này

  Liệt kê truyện theo chủ đề

  Liệt kê truyện theo tác giả
Số lần xem: 24363 |  Bình chọn:   |    Lưu lại   ||     Khổ chữ: [ 1, 2, 3

Chim Ó Biển (The Seahawk)
Rafael Sabatini

P2 -Chương 19

Muộn hơn một chút vào buổi sáng hôm đó, ít lâu sau khi chiếc galeasse đã thức giấc và sống động với mọi hoạt động của một thuỷ thủ đoàn đang chờ đợi trận đánh, Sakh el Bahr đến gặp Rosamund.
Chàng thấy cô thiếu nữ đã tươi tỉnh khoẻ khoắn hơn sau giấc ngủ, và chàng cam đoan với nàng rằng mọi việc đều ổn cả, động viên cô bằng những hy vọng mà chính chàng còn xa mới tin tưởng. Nếu cách cô gái chào đón chàng không thân thiện ra mặt, thì ít nhất cũng không thù địch. Nàng lắng nghe chàng nói về triển vọng giúp cô lấy lại tự do, và nếu nàng không nói một lời cảm ơn nào về những nỗ lực chàng đã làm vì nàng - chấp nhận chúng như việc hoàn trả lại món nợ giữa họ mà nàng đương nhiên có quyền đòi hỏi – thì từ cô gái cũng không hề có thái độ lẩn tránh gần như khinh miệt vẫn luôn hiển hiện trong cách cư xử cô dành cho chàng cho đến lúc này.
Chàng quay trở lại vài giờ sau, vào buổi chiều, vào lúc đó hai gã Nubia của chàng đã lại đứng vào vị trí. Chàng không có tin gì cho cô gái ngoài việc lính canh của họ đã nhìn thấy một cánh buồm về hướng tây, đang tiến lại phía hòn đảotheo làn gío đang thổi rất nhẹ. Nhưng chiếc tàu chở vàng họ đợi vẫn chưa xuất hiện, và chàng cũng thú nhận rằng một vài đề nghị chàng đưa ra với Asad để đưa nàng lên bờ tại Pháp đã bị từ chối. Tuy thế nàng cũng không cần lo sợ, chàng nói thêm ngay sau đó, khi nhìn thấy đôi mắt cô gái thoáng lo lắng. Một giải pháp thế nào cũng tới. Chàng đang xem xét tình hình, và sẽ không bỏ qua bất cứ cơ hội nào.
« Thế nếu không có cơ hội nào tới thì sao ? » cô gái hỏi chàng.
« Thì tôi sẽ tạo ra, » chàng đáp, gần như vui vẻ. « Tôi đã tạo ra chúng suốt đời mình, và sẽ thật lạ nếu tôi lại mất đi năng khiếu ấy vào đúng dịp quan trọng nhất. »
Sự ám chỉ đến cuộc đời chàng dẫn tới một câu hỏi từ cô thiếu nữ.
« Ngài đã tạo ra cơ hội khiến ngài trở thành như hiện nay ra sao ? Tôi muốn nói, » nàng vội nói thêm, như thể sợ rằng chủ ý thật của câu hỏi có thể bị hiểu nhầm, « rằng làm thế nào ngài lại trở thành một thuyền trưởng cướp biển. »
« Đó là cả một câu chuyện dài, » chàng nói. « Nếu kể lại tôi sẽ làm em phát chán. »
« Không đâu, » nàng nói, và lắc đầu, đôi mắt trong vắt của nàng nghiêm trang đối diện với cái nhìn u ám của chàng. « Ngài sẽ không làm tôi chán đâu. Sẽ không có nhiều cơ hội cho tôi để biết nó. »
« Và em muốn biết ? » chàng hỏi lại, và nói thêm. « Để em có thể phán xét tôi ? »
« Có lẽ, » nàng đáp, đôi mắt cúi xuống.
Đầu cúi về phía trước, chàng đi đi lại lại dọc căn phòng hẹp. Chàng khao khát muốn làm theo ý nàng, một điều cũng thật tự nhiên – vì nếu đúng là những người được biết tất cả sẽ cần tha thứ tất cả, không có trường hợp nào sẽ đúng hơn trường hợp của Sir Oliver Tressilian.
Và chàng kể lại câu chuyện của mình. Vừa rảo bước chàng vừa thuật lại tất cả, kể từ ngày chàng bị xiềng bên mái chèo của một chiếc galley Tây Ban Nha cho tới lúc trên chiếc tàu Tây Ban Nha chiếm được dưới mũi Spartel chàng quyết định tiến hành chuyến đi tới nước Anh để thăm lại đứa em trai. Chàng kể lại câu chuyện của mình một cách đơn giản, không giàu chi tiết, nhưng cũng không bỏ sót gì trong tất cả những biến cố đã đưa đẩy chàng tới vị thế hiện tại. Và cô thiếu nữ, lắng nghe, đã xúc động sâu sắc đến mức có lúc đôi mắt cô ướt nhoè những giọt nước mắt cô đã cố kìm lại nhưng không kìm nổi. Thế nhưng chàng cướp biển đang đi đi lại lại, đầu cúi gằm, đã quá chìm vào câu chuyện của mình, đôi mắt chàng không một lần nhìn về phía nàng, và do đó không hề nhận thấy gì.
« Vậy là, » chàng nói, khi câu chuyện kể lạ lùng kết thúc, « em đã biết những sức mạnh nào đã lôi kéo tôi. Một người đàn ông mạnh mẽ hơn tôi có thể đã kháng cự lại và lựa chọn cái chết. Nhưng tôi không mạnh mẽ đến thế. Hoặc có thể mạnh hơn chính bản thân tôi là khao khát trừng phạt, khao khát thoả mãn sự hận thù cay đắng mà tình yêu thương tôi dành cho Lionel trước đây đã chuyển thành. »
« Và cả tôi nữa – như ngài đã nói với tôi, » nàng thêm vào.
« Không phải thế, » chàng chữa lại. « Tôi hận em vì sự thiếu niềm tin của em, và hơn hết vì em đã đốt mà không đọc lá thư tôi đã nhờ Pitt trao cho em. Làm như thế, em đã góp phần vào những bất công tôi phải chịu đựng, em đã huỷ hoại cơ hội duy nhất của tôi để chứng minh sự vô tôi của mình và khôi phục lại thanh danh, em kết án tôi phải vĩnh viễn theo đuổi nghề cướp biển suốt phần đời còn lại. Nhưng lúc đó tôi không hề biết những nguyên do khiến em nghĩ về tôi như em đã nghĩ. Tôi không hề biết người ta đã tin là tôi bỏ trốn. Vì thế tôi sẵn lòng tha thứ cho em một lỗi lầm vì nó mà đã có lúc tôi thừa nhận rằng tôi đã căm thù em, và cũng nó đã thúc đẩy tôi bắt em mang theo khi tôi thấy em trong tay mình vào buổi tối khi tôi tới Arwenack để tìm Lionel. »
« Ngài muốn nói ngài không hề có dự định làm vậy ? » nàng hỏi.
« Bắt em đi cùng hắn ta ? » chàng hỏi lại. « Tôi xin thề với Chúa là tôi đã không dự định làm vậy. Quả thực, chính vì không dự định trước mà chuyện đó đã xảy ra, vì nếu tôi cân nhắc đến nó từ trước, tôi tin rằng tôi hẳn đã được trang bị để chống lại sự cám dỗ. Nó đã bất thần nhập vào tôi khi tôi nhìn thấy em ở đó bên Lionel, và tôi đã không thể cự lại được. Biết được những gì tôi biết lúc này, tôi cho rằng tôi đã bị trừng phạt thích đáng. »
« Tôi nghĩ tôi có thể hiểu được, » nàng khẽ nói đầy cảm thông, như để an ủi chàng, vì giọng nói của chàng trở nên đầy đau khổ dằn vặt.
Chàng ngả đầu ra sau. « Được thấu hiểu cũng đã là một điều gì đó, » chàng nói. « Nó đã là nửa đường tới sự tha thứ. Nhưng trước khi nhận được sự tha thứ, những tội lỗi đã gây ra cần được sửa chữa hoàn toàn. »
« Nếu có thể, » nàng nói.
« Nó cần được làm cho trở thành có thể, » chàng trả lời nóng nảy, rồi dừng bặt lại bởi tiếng hò hét từ ngoài vọng vào.
Chàng nhận ra giọng của Larocque, người vào lúc rạng sáng đã quay trở lại vị trí canh gác trên đỉnh vách đá để thay cho người trực canh ban đêm.
« Chủ nhân ! Chủ nhân !’ gã kêu lớn với giọng lạc đi vì kích động, kéo theo là một tràng xôn xao ồn ã của thuỷ thủ đoàn.
Sakh el Bahr quay nhanh ra phía cửa, vén rèm che bước ra boong sau. Larocque đang trèo qua mạn tàu để đi về phía mặt boong nơi Asad đang đứng đợi gã cùng Marzak và Biskaine. Phía mũi tàu, nơi đám cướp biển đã nghỉ ngơi yên lặng từ ngày hôm qua, lúc này chở thành một nơi náo nhiệt với một đám động đang nhốn nháo chạy dồn xuống boong giữa để xem tin gì đã khiến gã trực canh chạy về báo một cách hốt hoảng như vậy.
Từ nơi chàng đứng, Sakh el Bahr nghe thấy Larocque lớn tiếng thông báo.
« Chủ nhân, chiếc tàu thần đã phát hiện ra lúc rạng sáng ! »
« Thì sao ? » Asad hỏi.
« Nó ở đây- trong vịnh phía bên kia doi đất. Nó vừa thả neo. »
« Không cần hốt hoảng, » Basha lập tức đáp. « Vì nó buông neo ở đó, hiển nhiên là nó không nghi ngờ gì về sự có mặt của chúng ta. Đó là một chiếc tàu kiểu gì ? »
« Một chiếc galleon mạn cao hai mươi pháo, mang cờ Anh. »
« Tàu Anh ! » Asad kêu lên kinh ngạc. « Nó hẳn phải là một chiếc tàu rất mạnh để dám mạo hiểm như vậy trong hải phận Tây Ban Nha. »
Sakh el Bahr bước lại gần mạn tàu.
« Nó có mang dấu hiệu gì khác nữa không ? » chàng hỏi.
Larocque quay lại khi nghe thấy câu hỏi. « Có, » gã trả lời, « một lá cờ đuôi nheo màu xanh da trời treo trên cột buồm có mang hình một con chim màu trắng – tôi nghĩ là một con hải âu. »
« Một con hải âu ? » Sakh el Bahr băn khoăn lặp lại. Chàng không thể nhớ ra có gia huy nào như vậy ở nước Anh, cũng như chàng không thể tin rằng đó lại là một chiếc tàu Anh. Chàng chợt nghe thấy tiếng thở mạnh gấp gáp sau lưng mình. Chàng quay lại và thấy Rosamund đang đứng trên ngưỡng cửa, chỉ bị che khuất một nửa bởi tấm rèm. Khuôn mặt cô trắng nhợt, đầy vẻ quan tâm, đôi mắt cô gái mở to.
« Có chuyện gì thế ? » chàng cướp biển hỏi.
« Hắn ta nghĩ là một con hải âu, » cô gái nói, như thể chừng đó đã là một câu trả lời đầy đủ.
« Quả là một con chim lạ lùng, » chàng nhận xét. « Hắn ta đã lầm. »
« Không lầm nhiều đâu, Sir Oliver. »
« Thế là thế nào ? Sao lại không nhiều ? » bị thu hút bởi vẻ gì đó khác lạ trong giọng nói và cái nhìn của cô gái, chàng vội bước tới bên cạnh nàng, trong khi ở bên dưới những tiếng xầm xì ngày càng lớn dần.
« Cái mà hắn cho là một con hải âu thực ra là một con chim én- một con chim én bạc, màu trắng tượng trưng cho bạc trong các gia huy, đúng không ? »
« Phải. Thế thì sao ? »
« Ngài không hiểu sao ? Chiếc tàu đó hẳn là chiếc Én bạc. »
Chàng nhìn thẳng vào cô thiếu nữ. « Vậy thì sao ? » chàng nói, « tôi chẳng quan tâm lắm đến chuyện đó là én bạc hay châu chấu vàng. Có gì khác nhau đâu ? »
« Đó là chiếc tàu của Sir John - Chiếc tàu của Sir John Killigrew, » nàng giải thích. « Nó đã sẵn sàng ra khơi khi ... khi ngài tới Arwenack. Nó đã được chuẩn bị cho chuyến đi tới Tây Ấn. Thay vào đó—ngài không thấy sao ? – vì yêu quý tôi ông ấy đã đuổi theo với hy vọng sẽ bắt kịp ngài trước khi ngài tới được Barbary. »
« Chúa ơi ! » Sakh el Bahr kêu khẽ, và trở nên trầm ngâm. Rồi chàng ngầng đầu lên cười. « Quả thực ông ta đã chậm mất mấy ngày ! »
Nhưng câu châm biếm không nhận được trả lời từ phía cô gái. Nàng tiếp tục nhìn chàng chăm chú với đôi mắt phấn chấn nhưng rụt rè.
« Thế nhưng, » chàng tiếp tục, « ông ta quả là có mặt đúng lúc. Cho dù ngọn gió thổi vào những cánh buồm của ông ta có hơi yếu một chút, nhưng chúng đúng là được Chúa trời gửi xuống. »
« Liệu ... ? » cô gái ngừng lại, rồi, « liệu có thể liên lạc với nó được không ? » nàng rụt rè hỏi.
« Có thể ... phải, » chàng trả lời. « Cho dù chúng ta phải tìm ra phương tiện, và chuyện này sẽ không dễ dàng gì. »
« Và ngài sẽ làm chứ ? » cô gái hỏi, vẻ băn khoăn ngầm chứa trong câu hỏi cũng hiện lên trên khuôn mặt nàng.
« Hiển nhiên, » chàng trả lời, « vì không có cách nào khác cả. Không nghi ngờ gì, chuyện này sẽ phải trả giá bằng một số mạng sống, » chàng nói thêm, « nhưng... » và chàng nhún vai để kết thúc câu nói.
« Ôi, không, không ! Không thể với giá như vậy ! » cô gái phản đối. Và làm sao chàng có thể biết cái giá mà nàng đang nghĩ tới là chính tính mạng của chàng, mà nàng tin sẽ khó bảo toàn nếu gọi chiếc Én bạc tới giải cứu ?
Trước khi chàng kịp trả lời, sự chú ý của chàng cướp biển bị thu hút vào một sự việc khác. Từ đám thuỷ thủ đã bắt đầu vang lên sự bất bình đầy đe doạ, và bất thần một hai giọng cất lên đòi Asad phải lập tức cho lệnh ra khơi và rút chiếc tàu khỏi nơi phục kích lúc này đã trở nên quá nguy hiểm. Biến cố này xảy ra do lỗi của Marzak. Cậu ta là kẻ đầu tiên mở miệng nói ra đề nghị nhát gan này, và sự hoảng hốt đã lập tức lan nhanh trong hàng ngũ thủ hạ.
Asad, đứng thẳng người trên chiều cao áp đảo của mình, cúi xuống nhìn đám thủ hạ với đôi mắt đã từng có thời đủ để làm im lặng những vụ hoảng loạn rối răm hơn nhiều, và cất giọng nói trong thời oanh liệt của mình đã từng ra lệnh cho cả trăm người lao thẳng vào cái chết mà không kẻ nào do dự.
« Im lặng ! » đức ông ra lệnh. « Ta là chủ nhân của các người và không cần lời khuyên từ bất cứ ai trừ Allah. Khi ta thấy tới lúc, ta sẽ ra lệnh bắt đầu chèo, nhưng không sớm hơn. Trở về vị trí ngay, và im lặng ! »
Đức ông hạ cố giải thích với đám thủ hạ, để đám này thấy tiếp tục ẩn mình trong nơi trú ẩn bí mật này thay vì lao ra ngoài khoảng trống sẽ hợp lý hơn. Nhưng chỉ cần đó là ý của đức ông là đủ với chúng. Thủ hạ không có quyền nghi ngờ sự sáng suốt và quyết định của chủ nhân.
Nhưng Asad ed Din đã ở lại Algiers quá lâu trong khi hải đội của đức ông vẫy vùng trên biển dưới quyền Sakh el Bahr và Biskaine. Đám cướp biển này không còn quen thuộc với giọng nói của đức ông, lòng tin của chúng vào phán đoán của ngài không được xây dựng trên những kinh nghiệm trong quá khứ. Hơn nữa đức ông chưa bao giờ dẫn dắt những thành viên của thuỷ thủ đoàn này trong chiến trận và đưa chúng tới chiến thắng và phát tài nhờ chiến lợi phẩm.
Vì vậy lúc này chúng đưa ra lý lẽ của bản thân để tranh cãi với lý lẽ của đức ông. Với chúng có vẻ bất cẩn- như, trên thực tế, chính Marzak đã suy luận - nếu cứ tiếp tục chùng chình tại đây, và việc đức ông tuyên bố suông ý định của mình còn xa mới đủ để xoá bỏ nghi ngờ của đám thủ hạ.
Những tiếng rì rầm lớn dần, không hề bị át đi bởi vẻ kiêu hãnh và cái cau mày đe doạ của đức ông, và bất thình lình một gã trong đám cải đạo - được Vigitello ma mãnh thầm xúi bẩy - cất cao giọng gọi tên người thuyền trưởng mà chúng biết và tin tưởng.
« Sakh el Bahr ! Sakh el Bahr! Người không thể để chúng tôi chết rũ như chuột trong vũng nước xó xỉnh này!”
Đó là một mồi lửa ném vào hầm thuốc súng. Hàng tá giọng nói khác đồng loạt cất lên hưởng ứng; những cánh tay đưa tới hướng về phía Sakh el Bahr, đang đứng phía trên chúng trong tầm nhìn của tất cả, nghiêm nghị và bình thản tựa người vào hàng lan can trong lúc đầu óc linh hoạt của chàng cân nhắc cơ hội đang tới với mình, và cân nhắc lợi thế có thể tranh thủ được từ nó.
Asad bật lùi lại một bước choáng váng. Khuôn mặt đức ông tái nhợt, đôi mắt long lên giận dữ, bàn tay đức ông chộp lấy chiếc chuôi trang trí cầu kỳ của thanh scimitar, nhưng không dám rút nó ra khỏi vỏ. Thay vào đó, đức ông trút xuống Marzak cơn bực bội đang dày vò tâm hồn ngài trước bằng chứng cho thấy một cách quá hiển nhiên quyền uy của ngài đã suy sụp đến thế nào.
“Đồ ngu!” đức ông hầm hừ. “Hãy xem kết quả của sự hèn nhát của mi. Hãy xem mi đã đánh thức quỷ sứ ra sao với những lời lý sự đàn bà của mi. Mi cũng đòi chỉ huy một chiếc galley ư! Mi mà cũng muốn trở thành một chiến binh trên biển ư! Ta ước gì Allah đã giết chết ta đi trước khi ta phải chịu có một đứa con trai như mi!”
Marzak lùi trở lại trước những lời bực tức mà cậu ta e sẽ còn được kế tiếp bằng những thứ tệ hại hơn. Cậu thiếu niên không dám hé răng trả lời, cũng chẳng dám xin lỗi; lúc này cậu thậm chí gần như không dám thở.
Trong lúc đó Rosamund trong lúc phấn khích đã bước ra ngoài cho tới khi đến sát bên Sakh el Bahr.
“Chúa giúp chúng ta!” nàng lên tiếng đầy phấn chấn cảm kích. “Đây là cơ hội của ngài. Những người này sẽ tuân lệnh ngài.”
Chàng nhìn cô gái, khẽ mỉm cười trước sự phấn chấn của nàng. “Phải, thưa tiểu thư, chúng sẽ tuân lệnh tôi,” chàng nói. Nhưng trong khoảnh khắc vừa trải qua chàng đã đi đến quyết định của mình. Nếu hiển nhiên Asad có lú, và quyết định khôn ngoan nên theo là nằm yên trong nơi ẩn náu, khả năng không bị phát hiện là một lợi thế lớn ủng hộ ý đồ này, tuy thế đám cướp biển cũng không hề sai lầm. Nếu họ lập tức ra khơi, họ vẫn có thế rút lui mà cũng không bị phát hiện bằng cách luồn về phía đông, và cho dù tiếng mái chèo đập nước có vọng tới chiếc galleon phía bên kia doi đất, thì đến lúc chiếc tàu này kịp nhổ neo bắt đầu truy đuổi họ đã có thể cách đủ xa, tận dụng tối đa sức lực của đám nô lệ chèo thuyền, trong khi làn gió nhẹ - một yếu tố khiến chàng cân nhắc rất nhiều trong suy tính của mình – đã trở nên quá yếu khiến họ có thể cười diễu bất cứ chiếc tàu nào chỉ dựa vào buồm toan tính đuổi theo họ. Do đó, mối nguy duy nhất là những khẩu đại bác của chiếc galleon, và từ kinh nghiệm của mình Sakh el Bahr biết quá rõ mối nguy đó cũng không hề quá nghiêm trọng.
Vì vậy, chàng bị miễn cưỡng đẩy tới kết luận rằng trong vị thế của chàng cách xử sự khôn ngoan nhất lúc này là ủng hộ Asad, vì chàng hoàn toàn tin tưởng vào sự tuân lệnh của đám thủ hạ chàng tự an ủi mình với ý nghĩ rằng chàng có thể dành được một thắng lợi tinh thần sẽ đem lại lập tức sau đó những lợi thế lớn hơn.
Vậy là, để trả lời đám cướp biển vẫn đang hò hét gọi chàng, chàng bước xuống phía đám đông và đi dọc thân tàu tới bên Basha. Asad quan sát chàng cướp biển lại gần với sự bực bội hoàn toàn sai lầm; đức ông đi tới kết luận là hiển nhiên Sakh el Bahr sẽ ra mặt chống lại ngài để nắm lấy quyền khống chế hoàn toàn đám nổi loạn này và thủ lợi tối đa từ tình huống hiện tại. Từ tốn và nhẹ nhàng, đức ông rút thanh scimitar khỏi vỏ, và Sakh el Bahr hơi liếc mắt nhìn hành động này, song không làm ra vẻ để ý tới mà đứng lên phía trước để đối thoại với đám cướp biển.
“Thế nào đây?” chàng lớn tiếng với giọng giận dữ. “ Chuyện này có nghĩa là gì đây? Chẳng lẽ các người đều điếc cả hay sao mà không nghe thấy mệnh lệnh của Basha của các người, đại diện tối cao của Allah, mà các người dám cất giọng phản loạn và hạch sách những gì các người muốn?”
Sau tràng lên lớp là sự im lặng hoàn toàn và đột ngột. Asad lắng nghe mà sững sờ; Rosamund nín thở lo lắng.
Chàng muốn gì đây? Chẳng lẽ chàng chỉ lừa dối để qua mặt nàng thôi sao? Liệu ý định của chàng với nàng có hoàn toàn ngược lại những gì chàng vẫn tỏ ra? Cô thiếu nữ tựa người vào lan can, cố dõi theo từng lời nói của chàng cướp biển bằng thứ tiếng lingua franca, gần như hy vọng rằng vì không hiểu rõ thứ tiếng này mà nàng đã lầm lẫn về những gì chàng đã nói.
Nàng thấy chàng quay sang phía Larocque, đang đứng đợi bên mạn tàu, với một cử chỉ ra lệnh bực bội.
“Quay về vị trí của ngươi ở trên kia, và theo dõi mọi động tĩnh của chiếc tàu nọ, thông báo lại cho chúng ta. Chúng ta sẽ không rời khỏi đây cho đến khi chủ nhân Asad của chúng ta muốn. Đi ngay!”
Larocque không dám lầm bầm lấy một lời, trèo qua mạn tàu nhảy xuống một chiếc mái chèo, từ đó gã đi lên bờ như lệnh nhận được. Và không có giọng nói nào cất lên phản đối.
Cái nhìn tối sầm bực bội của Sakh el Bahr lướt dọc các hàng cướp biển đang đứng chật boong trước.
“Chỉ vì cậu ấm hậu cung này,” chàng nói, với giọng thật cả gan, và khinh khỉnh đưa tay về phía Marzak, “thì thầm về nguy hiểm vào tai các người, mà tất cả các người cũng trở nên rụt rè ngu ngốc như một đàn cừu ư? Có Allah chứng dám! Các người làm sao vậy? Các người có còn là những con ó biển không hề biết sợ đã cùng sải cánh với ta, cùng xông tới bất cứ đâu móng vuốt của ta vươn tới, hay các người đã trở thành một bầy quạ rồi?”
Chàng được trả lời bởi một tay cướp biển già mà sự sợ hãi đã khiến trở nên táo gan.
“Chúng ta bị bẫy ở đây hệt như Dragut đã bị bẫy ở Jerba vậy.”
“Mi nói láo,” chàng đáp. “Dragut không hề bị bẫy, vì Dragut đã tìm được một đường ra. Và chống lại Dragut là toàn bộ hải quân của Genoa, trong khi chống lại chúng ta chỉ có một chiếc galleon duy nhất. Thề có Koran, nếu nó muốn giao chiến, chẳng lẽ chúng ta không có nanh vuốt sao? Liệu nó có phải là chiếc galleon đầu tiên mà chúng ta đã áp mạn hay không? Nhưng nếu ngươi ưa lý lẽ của một kẻ hèn hạ hơn, hỡi con trai của sự hổ thẹn, hãy biết rằng ngay khi chúng ta ra khơi chúng ta chắc chắn sẽ bị phát hiện, và Larocque hẳn cũng đã cho ngươi hay nó mang 20 đại bác. Ta nói với ngươi rằng nếu chúng ta bị chiếc tàu đó tấn công, tốt hơn nên bị tấn công trong cận chiến, và ta cho ngươi hay nếu chúng ta ẩn kín sẽ không lạ nếu thậm chí chúng ta sẽ còn không bị tấn công nữa kia. Chiếc tàu nọ chắc chắn không biết sự có mặt của chúng ta, vì nó đã buông neo ngay bên kia doi đất. Và hãy cân nhắc tới việc nếu chúng ta bỏ chạy khỏi một nguy hiểm không hề tồn tại, và trong cuộc chạy trốn chúng ta gặp may đến mức không biến mối nguy đó thành có thật và phải đối đầu với nó, chúng ta sẽ bỏ lỡ một chiếc tàu chở vàng sẽ đem lại lợi ích cho tất cả chúng ta.”
“Nhưng ta thật thừa hơi khi đi giải thích như vậy,” chàng đột ngột chấm dứt. “ Các người đã nghe mệnh lệnh của chủ nhân của các người, Asad ed Din, và nguyên lý lẽ đó là đủ rồi. Chấm dứt chuyện này lập tức.”
Không thèm đợi xem đám thủ hạ giải tán quay về chỗ thông thường của chúng ở boong mũi, chàng quay về phía Asad.
“Có thể đáng lẽ nên treo cổ con chó đã nói tới Dragut và Jerba,” chàng nói. “ Nhưng thần không bao giờ có thói quen cư xử khắc nghiệt với thủ hạ của mình.” Và đó là tất cả.

Asad từ chỗ ngỡ ngàng nhanh chóng đi đến chỗ thán phục, và trong sự thán phục chen lẫn vào nọc độc của sự ghen tức khi thấy Sakh el Bahr thành công trong một việc mà đức ông đã hoàn toàn thất bại. Sự ghen tức dần dần khoả lấp tất cả như một vết dầu loang. Nếu ông ta đã để bụng với Sakh el Bahr trước đó, sự để bụng đã trở thành sự căm hận thực thụ với một người mà lúc này ông ta nhìn nhận như một kẻ tiếm vị dám dành lấy quyền hành và địa vị chỉ dành cho Basha. Hiển nhiên không có chỗ cho cả hai người trong lãnh địa của Basha của Algiers.
Do đó những lời khen ngợi đã lên đến môi tắt ngấm khi Sakh el Bahr và đức ông đứng mặt đối mặt nhau. Trong im lặng, đức ông thầm quan sát viên phó tướng với đôi mắt nheo lại đầy độc địa, thông điệp từ đôi mắt đó thì chẳng ai trừ một thằng ngốc có thể hiểu nhầm được.
Sakh el Bahr chẳng phải là một gã ngốc, và cũng chẳng hề hiểu nhầm nó lấy một khoảnh khắc. Chàng cảm thấy tim mình thắt lại, và sự căm hận bùng sống dậy trong chàng để đáp lại sự căm hận. Gần như chàng bực bội với chính mình vì đã không nhượng bộ trong giây phút yếu lòng đó và công khai dấy loạn cùng đám cướp biển để loại bỏ hoàn toàn Basha.
Những lời nói làm lành chàng đã chuẩn bị nói ra, lúc này đã bị dẹp sang bên. Với cái nhìn hằn học trước mặt chàng đối lại bằng vẻ diễu cợt muôn thuở của mình. Chàng quay sang Biskaine.
“Lui ra,” chàng gằn giọng ra lệnh cho gã, “ và hãy mang theo chiến binh oai hùng của biển cả kia đi cùng với ngươi.” Và chàng chỉ về phía Marzak.
Biskaine quay sang Basha. “Thưa chủ nhân, người có muốn vậy chăng?” gã hỏi.
Asad yên lặng gật đầu, và ra lệnh cho gã cùng Marzak đang co ro cùng lui ra chỗ khác.
“Chủ nhân,” Sakh el Bahr nói, khi chỉ còn lại hai người, “hôm qua thần đã đưa ra với người một đề nghị để hàn gắn bất hoà giữa chúng ta, và đề nghị đó đã bị chối từ. Nhưng lúc này đây nếu thần đúng là một kẻ phản bội và nổi loạn như người đã buộc tội, thần đã có thể tận dụng thái độ của thủ hạ của thần. Nếu thần làm vậy lúc này thần đã chẳng cần đề nghị hay cầu khẩn gì. Ngược lại, đáng lẽ thần đã có thể là kẻ ra điều kiện. Vì thần đã cho người thấy bằng chứng hiển nhiên này về lòng trung thành của thần, thần hy vọng và tin tưởng rằng thần có thể lấy lại được vị trí thần đã để mất trong sự tin cậy của chúa công, và như thế người sẽ chấp nhận đề nghị của thần liên quan tới người phụ nữ người Âu ở trên kia.”
Có thể sự tình cờ thật không may khi lúc đó cô gái lại đứng trên boong không che mặt trong tầm mắt của Asad; nếu không nhìn thấy nàng rất có thể sự do dự đã nhường chỗ cho sự cẩn trọng khiến ông ta nhượng bộ. Đức ông ngắm nhìn nàng trong chốc lát, và khuôn mặt tái nhợt đi vì giân dữ của ngài lấy lại một phần màu sắc.
“Sakh el Bahr, không phải ngươi là kẻ có quyền ra điều kiện,” cuối cùng ông ta trả lời. “Dám làm thế cũng đủ chứng tỏ ngươi đã rời xa sự trung thành mà ngươi luôn mồm nói tới đến đâu. Ngươi biết ý định của ta với cô ta. Ngươi đã một lần chống đối lại ta, lạm dụng giới luật thiêng liêng của đấng tiên tri vào mục đích riêng của ngươi. Cứ tiếp tục ngáng đường ta như vậy, ngươi sẽ phải trả giá bằng tính mạng mình.” Giọng ông ta to gần, run lên bực tức.
“Đừng có lớn tiếng quá thế,” Sakh el Bahr nói, đôi mắt của chàng cũng gườm gườm giận dữ. “ Vì nếu người của tôi nghe thấy những lời đe doạ của ngài tôi sẽ không chịu trách nhiệm vì những gì sẽ xảy ra tiếp theo. Tôi sẽ phải trả giá bằng tính mạng vì đã chống lại ngài, ngài nói thế ư. Thế cũng được.” Chàng mỉm cười gằn. “Sẽ là chiến tranh giữa chúng ta, Asad, vì ngài đã chọn như vậy. Về sau hãy nhớ khi hậu quả trút xuống đầu ngài rằng chính ngài đã lựa chọn như thế.”
“Đồ chó đẻ phản phúc, nổi loạn!”
Sakh el Bahr quay đi. “Cứ đi theo con đường mà sự điên rồ của một ông già dẫn dắt ngài,” chàng nói vọng lại, “và hãy chờ xem nó sẽ dẫn ngài tới đâu.”
Cùng với câu nói này, chàng đi lên phía boong đuôi, để mặc Basha ở lại một mình cùng cơn hậm hực của ông ta, pha lẫn chút e ngại trước sự thách thức ngạo mạn cuối cùng này. Thế nhưng cho dù chàng vừa thách thức một cách ngạo nghễ, trái tim của Sakh el Bahr nặng trĩu lo âu. Chàng đã phác ra một kế hoạch; nhưng giữa kế hoạch và việc thực hiện nó, chàng ý thức được trở ngại sẽ chẳng nhẹ nhàng gì.
“Tiểu thư,” chàng nói với Rosamund khi leo lên tới boong đuôi. “Em thật không khôn ngoan khi để lộ mình quá công khai như thế này.”
Trước sự ngỡ ngàng của chàng cướp biển, cô thiếu nữ chào đón chàng bằng một cái nhìn thù địch.
“Không khôn ngoan?” nàng nói, thái độ đầy khinh miệt. “Ngài muốn nói rằng tôi sẽ có thể nhìn thấy nhiều hơn những gì vốn định dành cho tôi. Ngài đang chơi trò gì đây, thưa ngài, mà ngài lại nói với tôi một điều và cùng lúc cho tôi thấy bằng hành động của mình rằng ngài mong muốn làm một điều khác hẳn?”
Chàng chẳng cẩn phải hỏi nàng định ám chỉ điều gì. Ngay lập tức chàng nhận ra cô thiếu nữ đã hiểu lầm màn kịch cô vừa được chứng kiến.
“Tôi nhắc lại để em nhớ rằng,” chàng nghiêm giọng nói, “rằng đã một lần trước đây em hiểu lầm tôi bằng những phán xét quá vội vàng, như đã được chứng minh cho em thấy.”
Lý lẽ của chàng khiến nàng không còn thấy tự tin như trước nữa. “Thế nhưng...” cô gái bắt đầu lên tiếng.
“Tôi chỉ yêu cầu em hãy đợi đến khi mọi việc kết thúc rồi hãy phán xét. Nếu tôi sống tôi sẽ giải thoát cho em. Cho tới lúc đó tôi yêu cầu em hãy ở bên trong khoang. Việc em lộ mặt ra ngoài để mọi người nhìn thấy sẽ không hề giúp ích cho tôi chút nào.”
Cô thiếu nữ nhìn chàng, đôi môi cô mấp máy như muốn yêu cầu một lời giải thích. Nhưng trước giọng nói và cái nhìn ra lệnh bình thản của chàng cướp biển, cô từ từ cúi đầu xuống và lui vào phía sau tấm rèm.

<< P2- Chương 18 | P2 -Chương 20 >>


Dành cho quảng cáo

©2007-2008 Bản quyền thuộc về Liên Mạng Việt Nam - http://lmvn.com ®
Ghi rõ nguồn "lmvn.com" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này - Useronline: 98

Return to top