 |
Giám đốc CIA John M.Deutch. |
Để trả lời câu hỏi đó, chúng ta cần phải xác định một loạt cơ sở thể hiện những đặc điểm chủ yếu của CIA trong mấy năm trước và sau khi kết thúc chiến tranh lạnh. Thời gian được chọn cho sự phân tích này là từ năm 1985 đến năm 1996. Nó cho phép ta có một cơ sở so sánh để xem liệu có xảy ra thay đổi hay không. Trong số những đặc điểm quan trọng nhất cần phải được xem xét là những nhiệm vụ được CIA nhấn mạnh trước và sau chiến tranh lạnh, đặc biệt là CIA đã phân bổ nguồn lực cho các hoạt động của mình như thế nào; những nước và phe phái nào là mục tiêu của các hoạt động đó; ngân sách, nhân sự và các sửa đổi và chấn chỉnh về tổ chức; những phản ứng của CIA đối với các tổ chức giám sát thuộc ba ngành của chính quyền (khả năng chịu trách nhiệm), và cuối cùng là mối quan hệ của CIA với các nhóm gây sức ép bên ngoài và các phương tiện truyền thông.
Tiếp cận thông tin về hoạch định chính sách tình báo mà phần lớn đựơc giữ bí mật qủa là một thách thức. Tôi phải dựa vào những những phương pháp luận có chất lượng hơn nhưng kém chính xác hơn so với mong muốn của mình; để tranh sai lầm, tôi phải phỏng vấn nhiều và kiểm tra thêm với các chuyên gia tình báo (đương chức hay đã nghỉ hưu) và sàng lọc cẩn thận những bằng chứng tư liệu công khai với số lượng hạn chế nhưng đang tăng lên. Mặc dù có những khó khăn về phương pháp luận, CIA là một công cụ quan trọng về chính sách đối ngoại, do đó cần cố gắng tìm hiểu hoạt động của nó. Tôi đã bắt đầu nghiên cứu bộ ba tình báo (những nhiệm vụ then chốt của CIA), rồi xác định những cơ sở cho phép tôiđánh giá được con đường tiến triển của CIA trong thập niên đầy biến động vừa qua của các vấn đề quốc tế.
Bộ ba tình báo
Mục đích cơ bản của CIA là ngăn không để xảy ra một Trân Châu Cảng nữa, tức là bảo vệ Hoa Kỳ chống lại những mối đe doạ nguy hiểm từ bên ngoài. Nhằm mục đích đó, nhiệm vụ cốt lõi được nêu trong quy chế thành lập CIA (Luật An ninh quốc gia Hoa Kỳ năm 1947) là thu thập, phân tích và phối hợp các thông tin về đối ngoại. Trung tâm của tiến trình tình báo này là mục tiêu xoá bỏ hoặc giảm bớt tính bất định cho những người ra quyết định của chính quyền (Clapper 1995, 3; xem thêm Berkowitz và Goodman 1989; Ford 1993).
Việc thu thập tin tình báo liên quan đến việc tìm cách tiếp cận các thông tin về các đối thủ nước ngoài, chủ yếu gồm việc sử dụng những nguồn tin công khai nhưng cũng dùng gián điệp (người làm tình báo, còn gọi là HUMINT; Cline 1976; Johnson 1989; Westerfield 1995) hoặc các phương tiện cơ khí (tình báo kỹ thuật hay TECHINT; Burrows 1989; Brujioni 1993; Richelson 1990).
CIA nhanh chóng đảm nhận nhiệm vụ thứ hai: phản gián (CI) mặc dù điều đó không được nêu trong quy chế thành lập. Những bí mật do CIA tập hợp được phảibảo vệ và đó là trách nhiệm của các sĩ quan phản gián. Ngoài các biện pháp an ninh cơ bản (hàng rào, trạm gác), các quan chức phản gián còn được giao nhiiệm vụ tiến hành những hoạt động xông xáo hơn ví dụ luồn sâu vào cơ quan tình báo nước ngoài với một vỏ bọc nhằm phá hoại các nỗ lực của đối thủ đang hoạt động tình báo và quấy rối đối với Hoa Kỳ (Wise 1992; Zuehlke 1980).
Nhiệm vụ thứ ba gây tranh cãi nhiều nhất, là hoạt động bí mật (CA), tức là những hoạt động nhằm tác động đến tình hình ở nước ngoài mà không để người ta quy tội cho Hoa Kỳ (Deutch 1995). Hoạt động bí mật còn được gọi trong nội bộ là phương án thầm lặng hay những hoạt động đặc biệt bao gồm việc bí mật can thiệp vào công việc của các nước khác thông qua tuyên truyền, thao túng chính trị, phá hoại kinh tế và các hoạt động bán quân sự kể cả những mưu toan ám sát trong quá khứ. (Johnson 1992, 1996; Resiman và Baker 1992; Treverton 1987; Quỹ thế kỷ XX, 1992).
Thu thập và phân tích tình báo Trong những năm cuối cùng của chiến tranh lạnh (1985 - 1991) sự chú ý đến tình báo kỹ thuật tiếp tục tăng lên với tốc độ vừa phải như đã liên tục xảy ra kể từ khi CIA được thành lập năm 1947 (Johnson 1996). Sự chú ý đến tình báo sử dụng điệp viên thường thiếu đều đặn, giảm dần từ năm 1986 đến năm 1989 rồi lại bắt đầu tăng lên cho đến khi kết thúc cuộc chiến tranh lạnh. Việc nhấn mạnh công tác phân tích cũng đi theo con đường gần như song hành nhưng luôn luôn thấp hơn tình báo bằng điệp viên. Cũng tương tự như tình báo kỹ thuật, tuy mức độ nhấn mạnh thấp hơn rất nhiều, các cố gắng phối hợp đã tăng lên một cách vững chắc.
Trong những năm sau khi kết thúc chiến tranh lạnh (1992 - 1996), việc chú trọng đến tình báo kỹ thuật tiếp tục tăng rồi tạm thời gảm bớt trong năm 1994 và sau đó lại tăng. Sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, tình báo sử dụng gián điệp đã tăng một cách vững chắc cho đến năm 1996, còn việc nhấn mạnh đến phân tích lúc đầu tăng, rồi giảm đI, rồi lại tăng. Nhnữg cố gắng phối hợp liên ngành tiếp tục tăng lên một cách chậm chạp.
Trong giai đoạn đầu của thời kỳ John M.Deutch lãnh đạo năm 1995 –1996, mỗi hoạt động trên đều được nhấn mạnh nhiều hơn một chút. Deutch trở thành Giám đốc Cơ quan tình báo trung ương vào tháng 1 – 1995, vào lúc các quan chức ở Washington đang có những ý kiến nước đôi về công tác tình báo. Một mặt họ muốn cắt giảm ngân sách và cải cách công tác tình báo, mặt khác, họ lại lo ngại trước những mối đe doạ mới đang diễn ra ở nước ngoài đối với Hoa Kỳ và sự cần thiết phảiduy trì một lá chắn tình báo mạnh. Nhờ sự vận động hành lang khéo léo của Deutch và việc các nhà lãnh đạo Đảng Cộng hoà trong Quốc hội (đặc biệt là ở Hạ nghị viện) người ta ngày càng tin rằng ngành tình báo xứng đáng được ủng hộ nhiều hơn, cuộc tranh luận đã sớm chuyển sang tăng ngân sách cho CIA và các cơ quan tình báo khác.
Việc chấm dứt chiến tranh lạnh đã không ảnh hưởng sâu sắc đến những nhiệm vụ cốt lõi của CIA. Năm 1994 , dưới thời Woolsey đã có một số biến động tạm thời mà đáng kể nhất là việc giam ủng hộ đối với tình báo kỹ thuật. Nhưng trong những năm đầu lãnh đạo đầy năng nổ của Deutch, mọi chỉ số đều cho thấy có tăng tiến. Ngay trong ví dụ dễ thấy nhất là việc giảm nhấn mạnh về tình báo kỹ thuật thì sự giảm sút đó cũng chỉ trong một thời gian ngắn. Và trong những năm quá độ ấy cũng không có sự thay đổi nào về vị trí tương đối của bốn hoạt động so với tình hình của chúng trước khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ.
Sự thăng trầm của tình báo kỹ thuật xảy ra sau khi chiến tranh lạnh kết thúc phản ánh sự căng thẳng giữa hai mục tiêu mâu thuẫn nhau của các cơ quan tình báo trong những năm đó. Một mục tiêu là giảm chỉ tiêu về tình báo, liên quan đến việc tìm lợi nhuận hoà bình sau khi kết thúc chiến tranh lạnh và đó là lý do tình báo kỹ thuật suy giảm trong năm 1994. Tuy nhiên, các dữ liệu cũng cho thấy rõ là trong năm1996, nói chung người ta chấp nhận giả thuyết -những con rắn- của James Woolsey cho rằng lúc này thế giới là nơithậm chí còn nguy hiểm hơn trước và do đó, tình báo nên được tăng them ngân sách.
Các lập trường không nhất quán: đó là đặc trưng của thời kỳ Woolsey làm Giám đốc CIA. Ông đặc biệt chú ý đến tình báo kỹ thuật, một mối quan tâm cá nhân có từ lâu của ông khi còn là quan chức Lầu Năm góc trước khi chuyển sang CIA. Tuy nhiên, Woolsey phải đương đầu với các nhà lập pháp, với quan chức Nhà Trắng đang chủ trương cắt giảm ngân sách, một mục tiêu rõ ràng trái ngược với việc Giám đốc CIA ưa thích các hệ thống thiết bị đắt tiền.
Woolsey bắt đầu nhiệm kỳ năm 1993 với một nỗ lực mạnh mẽ để tăng ngân sách cho các cơ quan tình báo, không chỉ riêng tình báo kỹ thuật mà toàn bộ hoạt động tình báo, thể hiện chủ trương toàn diện muốn có một cơ quan tình báo hùng mạnh hơn trong một thế giới hậu cộng sản vẫn còn thù địch. Dù lúc đầu Giám đốc CIA đã tích cực yêu cầu, tinh thần cắt giảm chi phí của Quốc hội tỏ ra quá mạnh và không thể khắc phục được, cho nên ngân sách tình báo bắt đầu giảm so với đỉnh cao lịch sử 26 - 28 tỷ USD/ năm trong thời kỳ 1989 - 1991 (Weiner 1996a).
Đáng ra việc Woolsey khăng khăng nói rằng Hoa Kỳ đang đối mặt với một thế giới ngày càng thù địch hơn đã có thể tránh được việc giảm nhanh ngân sách CIA. Nhưng phong thái công tố viên của ông (mà một số thành viên Quốc hội coi là ngạo mạn và chối tai) đã làm mất lòng một số những nghị sĩ có ảnh hưởng nhất chuyên theo dõi công tác tình báo, kể cả Chủ tịch uỷ ban về tình báo của Thượng nghị viện là Dennis DeConcini (Đảng Dân chủ - bang Arizona).
Lúc đầu Woolsey dùng phép ẩn dụ về một thế giới giống như một khu rừng rậm để bảo vệ các chương trình cuả CIA, nhưng ít lâu sau ông đã thận trọng thay thế hình ảnh những con rắn độc bò khắp nơitrên thế giới bằng một lý lẽ cơ bản về quản lý tỏ ra thuyết phục hơn. Ông chuyển sang vận động cho việc cấp các khoản tiền ngắn hạn cho ngành tình báo cho phép tiết kiệm trên cơ sở dàihạn bằng cách thống nhất các hoạt động tình báo (đặc biệt là các chương trình phóng vệ tinh tình báo kỹ thuật). Rõ ràng Quốc hội không muốn ủng hộ việc tăng ngân sách quốc phòng hay tình báo trong giai đoạn 1992 -1994 và Nhà Trắng cũng vậy; trong khi tranh cử, các chính trị gia trong cả hai ngành đều tán thành giảm bớt thâm hụt ngân sách như là một vấn đề ưu tiên lớn. Do đó,Woolsey buộc phải rút lui các lời cảnh báo khủng khiếp về những con rắn và chuyển sang một luận điểm thiết thực hơn(tuy là ngắn hạn) về quản lý tốt hơn để bảo vệ ngân sách tình báo.
Giám đốc CIA khẳng định rằng việc tăng cường cấp tiền sẽ giúp làm cho quản lý có hiệu quả và sẽ sớm tiết kiệm được nhiều tiền - đặc bịệt là làm giảm nhu cầu về những vệ tinh mới đắt tiền khi những mô hình cũ hơn được điều chỉnh quỹ đạo và giao những nhiệm vụ mới (Woolsey 1993a). Đến năm 1997, Giám đốc CIA dự định giảm 50% số vệ tinh và giảm trên 50 % trạm thu tin mặt đất (Woolsey, tàiliệu đã dẫn). Cũng về tình báo kỹ thuật, Giám đốc dự định sẽ giảm 25% nhân sự Vụ Khoa học công nghệ (DST) và giảm 1.700 viên chức trong các bộ phận hỗ trợ kỹ thuật (Woolsey 1994, 8-9).
Đối với tình báo gián điệp, Giám đốc CIA dự tính vào năm 1997 sẽ giảm một số viên chức theo dõi các đIệp viên ở nước ngoài. Vụ hoạt động, cơ quan phụ trách bộ máy tình báo của CIA sẽ giảm 700 người; vào năm 1997 Vụ Tình báo, gồm các viên chức chuyên phân tích cũng sẽ giảm 1000 người tức là giảm 1/3, xuống ngang với mức nhân sự năm 1977 (Woolsey 1994, 7-8). Một số tiền tiết kiệm được do thống nhất các chương trình tình báo kỹ thuật sẽ được chuyển vào việc chiêu mộ các điệp viên ở nước ngoài.
Những thay đổi được dự định ấy là khá toàn diện. Sự nhấn mạnh về hoạt động tình báo gián điệp vẫn tương đối ổn định vì Woolsey nhấn mạnh yêu cầu cần tăng đIệp viên ở nước ngoài. Việc giảm nhân sự tạibộ chỉ huy và các trạm mặt đất sẽ được bù lạibăng việc tăng đIệp viên ở nước ngoài.
Tiếp theo việc thu gọn lại sẽ là sự thành lập một số lượng lớn hơn những trung tâm thu thập tình báo tại những quốc gia mà trước đây CIA đã bỏ sót trong thời kỳ Hoa Kỳ tập trung chú ý vào Liên Xô. Các ưu tiên tình báo mới sẽ bao gồm cả những nước tuy nhỏ nhưng có thể sẽ là mối đe doạ cho Hoa Kỳ (khi gần kết thúc chiến tranh lạnh, CIA đã cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những tin tức không đầy đủ về các vùng rối ren trong đó có Grenada, Panama, Lybia, Bắc Triều Tiên và Iraq); tăng thêm hoạt động tình báo kinh tế vĩ mô (đối với các chính phủ, chứ không phải các công ty kinh doanh nước ngoài), một chủ đề ngày càng quan trọng và đã bắt đầu thu hút khoảng 40% các nguồn lực thu thập phân tích tình báo vào giai đoạn đầu của thời kỳ sau chiến tranh lạnh (so với dưới 10% trước đó); và một loạt các quan tâm khác từ thu thập dữ liệu về các mối đe doạ về môi trường và sức khoẻ toàn cầu (ví dụ, bênh AIDS) đến dòng người tị nạn và ma tuý (Johnson 1992 - 1993). Quan tâm lớn nhất của những người lãnh đạo CIA là sự lo sợ về sự phổ biến vũ khí rộng khắp, đặc biệt là mối nghi ngờ về chương trình bom nguyên tử của Bắc Triều Tiên.
Nhìn chung, trong thời kỳ đầu mới nhậm chức, Woolsey đã đình chỉ tất cả mọi việc thuê thêm nhân công và đã giảm gấp đôi mức giảm nhân sự 12% do Nhà Trắng khuyến nghị (Woolssey 1993a). Các số liệu về nhân sự cho thấy CIA dự tính giảm 12% nhân sự từ năm 1994 đến 1997 (Johnson 1992 - 1993). Woolsey đã nói: "Chúng ta phải bù lại sự cắt giảm này bằng một cơ cấu mềm dẻo và có khả năng đáp ứng (Woolsey 1994,8).